Phương pháp học

Đề đánh giá năng lực vào lớp 6 khác đề thi cũ thế nào?

Đề đánh giá năng lực vào lớp 6 khác đề thi cũ ở đâu? Phân tích phần toán, 10 câu mẫu tự soạn kèm lời giải, lỗi hay gặp và lộ trình ôn từ lớp 3 đến lớp 5.

M

MathMind Team

· 22 phút đọc
Đề đánh giá năng lực vào lớp 6 khác đề thi cũ thế nào?

Tối chủ nhật, bạn mở lại tập đề “thi vào lớp 6” mà nhóm phụ huynh chuyền nhau. Con làm xong đề số 7, được điểm cao. Nhưng bạn vừa đọc tin trường sắp tới cho học sinh làm bài trên máy tính, có cả câu hỏi về khoa học và đời sống, và Sở nói đề “không kiểm tra kiến thức tiểu học cụ thể”. Vậy tập đề cũ có còn dùng được không, và con cần luyện gì thay vào đó? Bài này trả lời từng câu, kèm 10 câu toán mẫu MathMind tự soạn mà bạn có thể tải bản PDF để in cho con làm thử.

Đề đánh giá năng lực vào lớp 6 là bài khảo sát do trường hoặc Sở tổ chức để xem học sinh biết đọc hiểu, suy luận và vận dụng trong tình huống thực tế, thay vì kiểm tra thuộc dạng bài. Phần toán thường là bài toán có lời văn đời thường, dữ kiện cần đọc kỹ, đôi khi tích hợp môn khác, mà vẫn chỉ dùng kiến thức toán lớp 4–5.

💡 Tóm tắt nhanh:

  • Đề cũ hay hỏi “bài này thuộc dạng nào”; đề đánh giá năng lực hỏi “tình huống này cần làm phép gì và vì sao”.
  • Ví dụ có nguồn: Trần Đại Nghĩa (TP.HCM) 2026 có 20 câu trắc nghiệm 30 phút và phần tự luận 60 phút, trong đó có Toán và tư duy logic. Cầu Giấy (Hà Nội) đánh giá ba môn Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh.
  • Bài có 10 câu toán mẫu do MathMind tự soạn (không phải đề chính thức), mỗi câu gắn với một kỹ năng lớp 4–5, kèm lời giải và lỗi hay gặp.
  • Lớp 3 xây nền đọc hiểu và tính chắc, lớp 4 học cách vẽ sơ đồ, lớp 5 làm quen bài nhiều bước và bài tích hợp.
  • Mỗi trường mỗi năm có thể đổi hình thức: luôn đối chiếu thông báo mới nhất của trường.
Bố trẻ và bé gái học sinh lớp 5 cùng nhìn vào một chiếc laptop đặt cạnh quyển vở và cây bút chì trên bàn học
Nhiều trường chất lượng cao đã cho học sinh làm bài đánh giá năng lực trên máy tính. Ở nhà, bố mẹ chỉ cần ngồi cạnh và hỏi con: “Con thấy đề đang hỏi gì?”

Các trường đang đánh giá học sinh lớp 6 như thế nào?

Trước khi so sánh với đề cũ, ta cần biết đề mới thực sự trông ra sao. Dưới đây là những gì kiểm chứng được từ thông báo của trường và báo chí. Mỗi trường một khác, nên đây là vài ví dụ, không phải quy định chung.

TrườngHình thứcNguồn và ngày
THCS và THPT Trần Đại Nghĩa (TP.HCM), năm 202690 phút, 2 phần. Trắc nghiệm 20 câu trong 30 phút (khoa học tự nhiên, xã hội, thường thức đời sống, câu hỏi bằng tiếng Anh). Tự luận 60 phút gồm Tiếng Anh, Toán và tư duy logic (làm bằng tiếng Việt), Đọc hiểu và làm vănThanh Niên, 06/03/2026; Tuổi Trẻ, 25/02/2026
THCS Cầu Giấy (Hà Nội), 2026–2027Bài đánh giá ba môn Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh; điểm xét tuyển là tổng điểm ba bài. Báo chí ghi nhận hơn 5.500 thí sinh cho 440 chỉ tiêu và điểm chuẩn 23,75Tiền Phong, tháng 6/2026
THCS và THPT Lương Thế Vinh (Hà Nội), năm 2025Chuyển từ giấy sang máy tính. Tư duy ngôn ngữ 60 phút (25 câu Tiếng Việt, 25 câu Tiếng Anh) và tư duy logic 30 phút (12 câu trắc nghiệm và điền kết quả)Thông báo của trường, 05/03/2025

Hai điều đáng chú ý. Thứ nhất, toán không còn đứng một mình: nó nằm cạnh tiếng Việt, tiếng Anh, thậm chí khoa học và thường thức đời sống, nên con phải đọc đề nhanh và chuyển ngữ cảnh liên tục. Thứ hai, ông Nguyễn Bảo Quốc, Phó giám đốc Sở GD&ĐT TP.HCM, cho biết đề Trần Đại Nghĩa không kiểm tra kiến thức tiểu học cụ thể mà yêu cầu tư duy và vận dụng vào tình huống thực tế (Tuổi Trẻ, 25/02/2026).

Về dòng Lương Thế Vinh: đây là thông báo của năm 2025, tức năm học trước. Bài này đưa vào để minh họa hình thức làm bài trên máy tính; bố mẹ có con quan tâm trường nào nên xem thông báo năm học 2026–2027 của trường đó. Bài tổng quan “Tuyển sinh lớp 6 trường chất lượng cao Hà Nội” và bài riêng về THCS Cầu Giấy sắp ra mắt trên MathMind sẽ cập nhật lịch và chỉ tiêu từng trường.

Một lưu ý trung thực: thang điểm từng phần, số câu phần toán và thời gian riêng cho toán của nhiều trường chưa được công bố đủ rõ. Bài này không điền những con số đó thay trường.

Đề thi vào lớp 6 cũ và đề đánh giá năng lực khác nhau ở đâu?

Đề thi vào lớp 6 kiểu cũ, mà nhiều phụ huynh còn giữ trong máy, thường gồm nhiều câu tính toán và vài bài toán “dạng quen”: tổng–hiệu, tổng–tỉ, chuyển động, hình học. Học sinh luyện nhiều, nhận ra dạng, áp công thức. Đề đánh giá năng lực không bỏ hẳn những kỹ năng ấy, nhưng đổi cách hỏi.

Tiêu chíĐề thi cũ (kiểu “dạng bài”)Đề đánh giá năng lực
Cách hỏi”Tính”, “Tìm x”, bài toán đã gói sẵn thành dạngTình huống đời thường: mua hàng, pha chế, quãng đường, đọc bảng
Con cần làm gì trướcNhận ra dạngĐọc hiểu đề, lọc dữ kiện cần, chọn phép tính
Phạm viChỉ toánToán đặt cạnh Tiếng Việt, Tiếng Anh, có trường thêm khoa học, thường thức
Hình thứcGiấy, tự luậnGiấy hoặc máy tính; trắc nghiệm, điền kết quả, tự luận
Điều cho điểmĐúng đáp sốChọn đúng hướng, nhiều bước, đôi khi cả lời giải thích
Luyện thế nàoLàm thật nhiều đề cùng dạngLàm ít bài hơn nhưng nói được “vì sao”

Lấy một ví dụ. Đề cũ cho: “Tổng hai số là 90, số lớn hơn số bé 20. Tìm hai số.” Đề mới nói: “Hai bạn góp tiền mua tặng cô giáo một bó hoa 90 nghìn đồng, bạn An góp nhiều hơn bạn Bình 20 nghìn. Mỗi bạn góp bao nhiêu?” Phép toán y hệt, nhưng con phải tự nhận ra đó là tổng–hiệu. Nếu con chỉ thuộc “dạng 1” mà không hiểu vì sao lấy (tổng − hiệu) chia 2, một lần đổi chữ là con bỏ trống. Bạn có thể xem cách dạy hiểu thay vì thuộc ở bài bài toán tổng hiệu.

Điều này khớp với khung “toán thực tế” trong chương trình 2018, mà bài toán thực tế là gì đã phân tích. Đề đánh giá năng lực chỉ là nơi các em gặp nó sớm nhất.

Phần toán trong đề đánh giá năng lực thường kiểm tra những gì?

Từ thông tin công bố và cách các trường mô tả, có thể gom phần toán vào năm nhóm kỹ năng. Đây là cách phân loại của MathMind để bố mẹ dễ theo dõi, không phải bảng cấu trúc chính thức.

  1. Số và tính toán trong ngữ cảnh: số thập phân, phân số, phần trăm, đổi đơn vị, nhưng gắn với tiền, khối lượng, dung tích.
  2. Quan hệ giữa các đại lượng: tổng–hiệu, tổng–tỉ, trung bình cộng, so sánh đơn giá.
  3. Chuyển động và thời gian: quãng đường, vận tốc, thời gian, hai vật đi cùng lúc.
  4. Hình học trong đời sống: diện tích, chu vi, hình tròn, thể tích, thường là hình ghép hoặc phần còn lại.
  5. Suy luận và logic: loại trừ, xếp thứ tự, tìm quy luật, đọc bảng số liệu.

Tuyệt đại đa số kiến thức nằm trong sách Toán 4 và Toán 5 (Kết nối tri thức, Cánh Diều, Chân trời sáng tạo đều có). Cái khó không phải “chưa học”, mà là đề không báo trước dạng gì. Nếu bạn muốn xem lộ trình dạng bài theo từng lớp, hãy đọc toán nâng cao lớp 5 và toán nâng cao lớp 4.

10 câu toán mẫu theo phong cách đánh giá năng lực

Lưu ý quan trọng: mười câu dưới đây do MathMind tự soạn để minh họa phong cách đề. Chúng không trích từ đề chính thức của bất kỳ trường nào và không dự đoán đề. Mỗi câu có: kỹ năng lớp 4–5 được kiểm tra, câu hỏi gợi mở để bố mẹ hỏi con trước khi xem lời giải, lời giải, lỗi hay gặp và mức độ khó.

Mức vừa sức

Câu 1. Mua gạo (so sánh đơn giá). Một cửa hàng bán gạo túi 5 kg giá 110 000 đồng và túi 2 kg giá 48 000 đồng. Nhà bạn Lan cần đúng 10 kg gạo. Mua thế nào rẻ nhất và rẻ hơn cách còn lại bao nhiêu?

  • Kỹ năng: nhân, so sánh đơn giá (lớp 4–5).
  • Hỏi gợi mở: “Con mua túi nào thì cần mấy túi? Mỗi cách tốn bao nhiêu?”
  • Lời giải: Mua 2 túi 5 kg: 2 × 110 000 = 220 000 đồng. Mua 5 túi 2 kg: 5 × 48 000 = 240 000 đồng. Cách đầu rẻ hơn 240 000 − 220 000 = 20 000 đồng. (Kiểm tra bằng đơn giá: 22 000 đồng/kg so với 24 000 đồng/kg.)
  • Lỗi hay gặp: thấy 48 000 nhỏ hơn 110 000 nên chọn túi nhỏ, quên rằng túi nhỏ chứa ít gạo hơn.
  • Con nói được: “Phải so giá của cùng một lượng gạo.”

Câu 2. Bạn thứ tư (trung bình cộng). Bốn bạn thi nhảy dây. An nhảy 36 cái, Bình 40 cái, Chi 44 cái. Trung bình mỗi bạn nhảy 42 cái. Hỏi Dũng nhảy bao nhiêu cái?

  • Kỹ năng: trung bình cộng ngược (lớp 4).
  • Hỏi gợi mở: “Nếu cả bốn bạn nhảy đều nhau thì tổng là bao nhiêu?”
  • Lời giải: Tổng của 4 bạn: 42 × 4 = 168. Ba bạn đầu: 36 + 40 + 44 = 120. Dũng: 168 − 120 = 48 cái.
  • Lỗi hay gặp: nhân 42 với 3 (đếm thiếu một bạn) hoặc lấy luôn 42.
  • Con nói được: “Trung bình nhân với số bạn ra tổng.”

Câu 3. Rót nước (đổi đơn vị, phép chia có dư). Chai nước có 1,5 lít. Mẹ rót đầy các cốc, mỗi cốc 400 ml. Rót được mấy cốc đầy và còn lại bao nhiêu ml?

  • Kỹ năng: đổi đơn vị dung tích, chia có dư (lớp 4–5).
  • Hỏi gợi mở: “1,5 lít bằng bao nhiêu ml? Chia cho 400 thì sao?”
  • Lời giải: 1,5 lít = 1 500 ml. 1 500 ÷ 400 = 3 dư 300. Được 3 cốc đầy, còn 300 ml.
  • Lỗi hay gặp: lấy 1,5 chia cho 400 (khác đơn vị), hoặc trả lời “3,75 cốc” mà quên đề hỏi cốc đầy.
  • Con nói được: “Đổi về cùng đơn vị rồi mới chia.”

Mức thử thách

Câu 4. Pha nước cam (tổng–tỉ). Một bình 2,5 lít nước cam pha theo tỉ lệ: cứ 2 phần nước cam nguyên chất thì có 3 phần nước lọc. Hỏi cần bao nhiêu ml nước cam nguyên chất và bao nhiêu ml nước lọc?

  • Kỹ năng: tổng–tỉ, đổi đơn vị (lớp 4–5).
  • Hỏi gợi mở: “Tổng cộng chia làm mấy phần bằng nhau? Một phần là bao nhiêu ml?”
  • Lời giải: Tổng số phần: 2 + 3 = 5. 2,5 lít = 2 500 ml, một phần 2 500 ÷ 5 = 500 ml. Nước cam: 2 × 500 = 1 000 ml. Nước lọc: 3 × 500 = 1 500 ml. (Cộng lại 2 500 ml, đúng.)
  • Lỗi hay gặp: chia 2 500 cho 2 và cho 3 riêng, hoặc quên đổi lít sang ml.
  • Con nói được: “Vẽ 5 ô, 2 ô là cam, 3 ô là nước.”

Câu 5. Cuốn truyện (phân số của phần còn lại). Hà đọc một cuốn truyện: ngày đầu đọc 1/5 số trang, ngày thứ hai đọc 1/4 số trang còn lại. Còn 120 trang chưa đọc. Cuốn truyện có bao nhiêu trang?

  • Kỹ năng: phân số của một số, tìm số khi biết giá trị một phần (lớp 4–5).
  • Hỏi gợi mở: “Sau ngày đầu, còn mấy phần cuốn sách? 1/4 của phần còn lại là mấy phần cả cuốn?”
  • Lời giải: Sau ngày đầu còn 4/5 cuốn. Ngày hai đọc 1/4 × 4/5 = 1/5 cuốn. Còn lại: 1 − 1/5 − 1/5 = 3/5 cuốn, ứng với 120 trang. Một phần năm là 120 ÷ 3 = 40 trang, cả cuốn 200 trang. (Thử: ngày 1 đọc 40, còn 160; ngày 2 đọc 40, còn 120. Đúng.)
  • Lỗi hay gặp: cộng 1/5 + 1/4 như thể cả hai đều lấy từ cả cuốn.
  • Con nói được: “Cái gì là ‘một phần’ phải xem nó lấy trên cái nào.”

Câu 6. Bồn hoa giữa sân (diện tích hình tròn, hình ghép). Sân trường hình chữ nhật dài 20 m, rộng 12 m. Ở giữa có bồn hoa hình tròn, đường kính 4 m. Diện tích phần sân còn lại (không tính bồn hoa) là bao nhiêu mét vuông? (Lấy π = 3,14.)

  • Kỹ năng: diện tích hình chữ nhật, hình tròn (lớp 5).
  • Hỏi gợi mở: “Con vẽ hình ra được không? Phần nào cần trừ đi? Bán kính là bao nhiêu?”
  • Lời giải: Sân: 20 × 12 = 240 m². Bán kính: 4 ÷ 2 = 2 m. Bồn hoa: 2 × 2 × 3,14 = 12,56 m². Phần còn lại: 240 − 12,56 = 227,44 m².
  • Lỗi hay gặp: dùng đường kính 4 m làm bán kính, ra 3,14 × 4 × 4 = 50,24 m² và đáp số 189,76 m².
  • Con nói được: “Công thức dùng bán kính, mà đề cho đường kính.”
Bé trai lớp 5 dùng compa vẽ một hình tròn nằm giữa một hình chữ nhật trên tờ giấy trắng, mẹ ngồi bên cạnh quan sát
Một bài toán đánh giá năng lực thường bắt đầu bằng một hình vẽ đời thường, như bồn hoa tròn giữa sân. Vẽ ra giấy giúp con thấy rõ phần nào cần trừ đi.

Công thức và các lỗi hay gặp của dạng này có ở bài diện tích hình tròn.

Câu 7. Giảm giá hai lần (phần trăm). Chiếc cặp giá 250 000 đồng được giảm 20%. Bạn có thẻ thành viên nên được giảm thêm 10% trên giá đã giảm. Bạn phải trả bao nhiêu tiền?

  • Kỹ năng: tỉ số phần trăm, nhiều bước (lớp 5).
  • Hỏi gợi mở: “Giảm lần đầu còn bao nhiêu? Lần giảm thứ hai tính trên số nào?”
  • Lời giải: Sau giảm 20% còn 80%: 250 000 × 80 ÷ 100 = 200 000 đồng. Giảm thêm 10% của 200 000 là 20 000, còn 180 000 đồng.
  • Lỗi hay gặp: cộng thành giảm 30%, ra 175 000 đồng.
  • Con nói được: “Lần giảm sau lấy trên giá mới.”

Câu 8. Rạp chiếu phim (dãy số cách đều). Hàng ghế đầu tiên của một phòng chiếu có 12 ghế, mỗi hàng sau nhiều hơn hàng trước 2 ghế. Phòng có 8 hàng. Hỏi phòng có tất cả bao nhiêu ghế?

  • Kỹ năng: dãy số cách đều, tổng dãy số (lớp 4–5).
  • Hỏi gợi mở: “Hàng thứ hai, thứ ba có bao nhiêu ghế? Hàng cuối có mấy ghế?”
  • Lời giải: Các hàng: 12, 14, 16, 18, 20, 22, 24, 26. Hàng cuối 26 ghế. Ghép cặp đầu–cuối: 12 + 26 = 38; có 8 ÷ 2 = 4 cặp như vậy. Tổng: 38 × 4 = 152 ghế.
  • Lỗi hay gặp: tính hàng cuối là 12 + 2 × 8 = 28; thực ra hàng thứ 8 chỉ “tăng” 7 lần.
  • Con nói được: “Có 8 hàng thì chỉ có 7 khoảng cách giữa các hàng.”

Mức rất khó

Câu 9. Hai bạn đi ngược chiều (chuyển động). Nhà An và nhà Bình cách nhau 900 m trên cùng một con đường thẳng. Cùng lúc, An đi bộ từ nhà mình về phía nhà Bình với vận tốc 70 m/phút, Bình đi từ nhà mình về phía nhà An với vận tốc 80 m/phút. Sau bao lâu hai bạn gặp nhau, và chỗ gặp cách nhà An bao xa?

  • Kỹ năng: chuyển động ngược chiều (lớp 5).
  • Hỏi gợi mở: “Mỗi phút hai bạn cùng lại gần nhau được bao nhiêu mét?”
  • Lời giải: Mỗi phút khoảng cách giảm 70 + 80 = 150 m. Thời gian gặp: 900 ÷ 150 = 6 phút. Chỗ gặp cách nhà An: 70 × 6 = 420 m. (Bình đi 80 × 6 = 480 m; 420 + 480 = 900, đúng.)
  • Lỗi hay gặp: lấy 900 chia cho vận tốc của một bạn, hoặc trừ hai vận tốc (dùng cho đi cùng chiều).
  • Con nói được: “Đi ngược chiều thì cộng vận tốc.”

Dạng này, cùng các cách vẽ sơ đồ quãng đường, được giải kỹ ở bài toán chuyển động lớp 5.

Câu 10. Xếp hàng chào cờ (logic loại trừ). Bốn bạn An, Bình, Chi, Dũng xếp thành một hàng dọc. Biết: (1) Dũng không đứng đầu cũng không đứng cuối hàng; (2) Bình đứng ngay sau Chi; (3) An đứng sau Dũng. Hãy xếp thứ tự từ đầu hàng đến cuối hàng.

  • Kỹ năng: suy luận loại trừ, đọc kỹ từ khóa “ngay sau” (lớp 3–5).
  • Hỏi gợi mở: “Chi và Bình luôn đứng cạnh nhau: coi như một cặp. Cặp đó có thể nằm ở những vị trí nào?”
  • Lời giải: Dũng chỉ đứng vị trí 2 hoặc 3. Cặp Chi–Bình (Chi trước, Bình sau) chiếm 2 vị trí liền nhau: vị trí (1, 2), (2, 3) hoặc (3, 4). Nếu ở (2, 3), Dũng không còn chỗ nên loại. Nếu ở (3, 4), Dũng đứng vị trí 2 và An đứng vị trí 1, nhưng An phải đứng sau Dũng nên loại. Còn lại (1, 2): Dũng đứng vị trí 3, An vị trí 4, thỏa cả ba điều kiện. Thứ tự: Chi, Bình, Dũng, An.
  • Lỗi hay gặp: hiểu “ngay sau” là “ở đâu đó phía sau” và không loại được trường hợp nào.
  • Con nói được: “Thử từng chỗ, chỗ nào vô lý thì gạch.”

Dừng lại khi nào? Nếu con làm sai ba câu liên tiếp ở mức thử thách, hãy quay về một câu mức vừa sức rồi nghỉ. Ở tuổi tiểu học, mục tiêu là con thấy mình còn làm được, không phải xong bằng được cả mười câu.

Bảng ánh xạ 10 câu mẫu với kỹ năng lớp 4–5

CâuKỹ năng chínhLớpMức
1So sánh đơn giá, nhân4–5Vừa sức
2Trung bình cộng4Vừa sức
3Đổi đơn vị, chia có dư4–5Vừa sức
4Tổng–tỉ, đổi đơn vị4–5Thử thách
5Phân số của phần còn lại4–5Thử thách
6Diện tích hình tròn, hình ghép5Thử thách
7Phần trăm nhiều bước5Thử thách
8Dãy số cách đều4–5Thử thách
9Chuyển động ngược chiều5Rất khó
10Logic loại trừ3–5Rất khó

Nhìn bảng, bạn sẽ thấy không câu nào cần kiến thức lớp 6. Cái làm câu khó là cách hỏi: đổi đơn vị ẩn, hai lần giảm giá, từ khóa “ngay sau”. Đây chính là điều Sở nói khi mô tả đề: kiểm tra vận dụng, không kiểm tra thuộc bài.

Lộ trình chuẩn bị theo từng lớp, không học thêm quá tải

Không có “mốc phải xong” nào. Dưới đây là gợi ý của giáo viên tiểu học cho phụ huynh bận rộn, ưu tiên thói quen hơn khối lượng.

LớpMục tiêu chínhViệc nhỏ làm hằng tuần
Lớp 3Đọc hiểu đề, tính nhẩm chắc, hiểu nhân chia2 bài toán có lời văn, con tự kể lại đề bằng lời của mình
Lớp 4Vẽ sơ đồ đoạn thẳng, phân số, trung bình cộng, tổng–hiệu3 bài, luôn vẽ sơ đồ trước khi tính
Lớp 5Bài nhiều bước, phần trăm, chuyển động, hình tròn, bài tích hợp1 câu “khó” mỗi cuối tuần, bố mẹ chỉ hỏi gợi mở

Vài nguyên tắc đi kèm:

  • Thêm đọc, không chỉ thêm toán. Vì đề đặt toán cạnh tiếng Việt, con đọc chậm thường mất điểm trước khi vào phép tính.
  • Đừng ép tốc độ ở lớp 3–4. Làm chậm mà hiểu, sau này mới nhanh một cách bền.
  • Làm một đề thử trên máy, nếu trường con quan tâm thi trên máy tính, để con quen cách chọn đáp án và gõ kết quả. Thao tác khiến nhiều em mất bình tĩnh dù biết làm.
  • Ít đề, nhiều trao đổi. Sau mỗi bài, hỏi con: “Con thấy chỗ nào dễ nhầm?” rồi ghi lại vào một cuốn “sổ lỗi hay gặp”.

Nếu bạn cần ai đó hỏi gợi mở thay mình vào những tối bố mẹ mệt, ứng dụng MathMind dùng cách hỏi từng bước thay vì đưa luôn đáp số; hiện nội dung dành cho lớp 2–3, nên với lớp 4–5, bạn vẫn là người đồng hành chính. Trợ lý chỉ hỗ trợ, không thay thế bố mẹ và thầy cô.

Lịch và hình thức tuyển sinh của từng trường có trong bản đồ tuyển sinh lớp 6 trường chất lượng cao Hà Nội; ví dụ một trường cụ thể: trường THCS Cầu Giấy.

Những câu hỏi thường gặp

Đề đánh giá năng lực vào lớp 6 có khó hơn đề thi cũ không?

Không hẳn khó hơn về kiến thức; khó hơn ở cách hỏi. Nội dung vẫn nằm trong chương trình tiểu học, nhưng đề không báo trước dạng bài, nên em nào quen “nhìn dạng rồi áp công thức” sẽ lúng túng hơn em hiểu bản chất.

Đề đánh giá năng lực vào lớp 6 làm trên máy tính hay trên giấy?

Tùy trường và tùy năm. Ví dụ Lương Thế Vinh (Hà Nội) chuyển sang làm bài trên máy tính từ kỳ khảo sát tháng 4/2025, còn Trần Đại Nghĩa (TP.HCM) năm 2026 có phần tự luận. Hãy đọc thông báo mới nhất của đúng trường con quan tâm.

Đề đánh giá năng lực vào lớp 6 môn toán gồm những dạng nào?

Nhiều trường không công bố danh sách dạng. Theo mô tả của Sở GD&ĐT TP.HCM, đề kiểm tra tư duy và vận dụng vào tình huống thực tế. Bố mẹ nên ôn theo nhóm kỹ năng: tính toán trong ngữ cảnh, quan hệ đại lượng, chuyển động, hình học đời sống và logic.

Đề thi vào lớp 6 môn toán cũ có còn dùng để luyện được không?

Còn, nếu dùng để rèn tính toán và kiểm tra nền. Chỉ cần đừng coi đó là bản dự đoán đề. Sau mỗi đề cũ, hãy đổi một bài sang ngữ cảnh đời thường và hỏi con: “Nếu đề nói bằng chuyện mua bán thì con làm thế nào?“

10 câu mẫu trong bài có phải đề chính thức không?

Không. Đó là câu do MathMind tự soạn để minh họa phong cách đánh giá năng lực. Đề chính thức do trường hoặc Sở công bố, bố mẹ nên tìm trên trang của họ hoặc trên báo chí khi đề được công bố.

Có file PDF 10 câu mẫu để in cho con làm không?

Có. Khung “Tải PDF” ngay dưới phần Tóm tắt nhanh có file khổ A4 do MathMind biên soạn: 3 trang đầu là 10 câu có chỗ làm bài, 2 trang cuối là đáp án, câu hỏi gợi mở và lỗi hay gặp, nên bạn có thể chỉ in trang đề cho con tự làm. File ghi rõ đây là đề luyện, không phải đề chính thức của trường nào.

Nên bắt đầu ôn cho đánh giá năng lực từ lớp mấy?

Không cần “ôn thi” sớm; chỉ cần xây nền từ lớp 3: đọc hiểu, tính nhẩm, vẽ sơ đồ. Lớp 4–5 là lúc làm quen bài nhiều bước. Điều quan trọng là con còn hứng thú với toán khi vào lớp 5.

Con tôi giỏi tính nhưng sai nhiều bài có lời văn, phải làm sao?

Hãy cho con kể lại đề bằng lời của mình, rồi vẽ ra giấy trước khi tính. Phần lớn lỗi ở bài có lời văn nằm ở bước đọc đề và chọn phép tính chứ không phải ở kỹ năng tính.

Kết luận

Đề đánh giá năng lực không phải là một cơn bão cần chạy đua. Nó chỉ đổi câu hỏi từ “con có thuộc dạng này không” sang “con có hiểu tình huống này không”. Mười câu mẫu ở trên cho thấy kiến thức vẫn là toán lớp 4–5; cái cần rèn là đọc kỹ, vẽ sơ đồ và nói được lý do. Bạn có thể chọn hai hoặc ba câu, ngồi cùng con tối nay, chỉ hỏi chứ không giảng. Nếu muốn tìm thêm bài để luyện, hãy xem thư viện bài viết toán của MathMind, và về trang chủ để thử trò chuyện cùng trợ lý toán.

Từ khóa liên quan:

đề đánh giá năng lựcđề thi vào lớp 6 môn toánđánh giá năng lực vào lớp 6đề khảo sát vào lớp 6 môn toán

Muốn con học toán hiệu quả hơn?

Dùng thử MathMind miễn phí 7 ngày — gia sư AI biết nói, hướng dẫn con từng bước, không cần thẻ tín dụng.

🚀 Bắt đầu ngay
MT

MathMind Team

Content Writer

Đội ngũ MathMind — gia sư Toán AI biết nói đầu tiên tại Việt Nam, đồng hành cùng phụ huynh và học sinh K12 học toán bằng sự hiểu, không học vẹt.

Bài viết liên quan

Trường THCS Cầu Giấy: tuyển sinh lớp 6 và phần toán
Mẹo cho phụ huynh Giới thiệu

Trường THCS Cầu Giấy: tuyển sinh lớp 6 và phần toán

Trường THCS Cầu Giấy tuyển lớp 6 thế nào: số liệu, lịch mùa 2026-2027, hình thức đánh giá năng lực, 5 bài toán mẫu của MathMind và lộ trình ôn từ lớp 3.

M

MathMind Team

19/10/2026 • 21 phút đọc